TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Y DƯỢC BUÔN MA THUỘT

Câu chuyện về IVF: Hơn 8 triệu đứa trẻ đã được sinh ra nhờ IVF

14/09/2019 0 0

Vào năm 1978, Louise Joy Brown đứa trẻ thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên trên thế giới đã cất tiếng khóc chào đời tại bệnh viện Đa khoa Oldham, nước Anh. Kể từ đó đến nay, trên toàn thế giới đã có hơn 8 triệu đứa trẻ được sinh ra nhờ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm – IVF (In Vitro Fertilisation).

Mỗi năm trên thế giới, các nhà khoa học ước tính có hơn 2 triệu ca điều trị vô sinh bằng kỹ thuật IVF và kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (ICSI) được thực hiện và có khoảng nửa triệu đứa trẻ được sinh ra nhờ 2 kỹ thuật này. Ngày nay, IVF đã được thực hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới và đã không còn xa lạ với nhiều cặp vơ chồng khi điều trị vô sinh, hiếm muộn. Nhưng ít ai ngờ rằng, khi mới được công bố phương pháp này đã gây ra nhiều tranh cãi.

Hình 1: Tóm lược một chu kỳ điều trị IVF

IVF là quá trình kết hợp giữa tinh trùng với trứng để tạo ra hợp tử, được thực hiện bên ngoài cơ thể người mẹ, tại phòng thí nghiệm. Tuy xảy ra bên ngoài, nhưng các điều kiện cho quá trình IVF như môi trường, nhiệt độ, độ ẩm, độ nhớt, yếu tố dinh dưỡng… cùng các chỉ tiêu sinh học khác sẽ được đảm bảo bình thường giống như trong cơ thể người mẹ. Phôi thai được hình thành sau khi trứng và tinh trùng kết hợp thành công sẽ được chuyển lại vào tử cung của người mẹ để phát triển thành thai nhi.

Nhiều người cho rằng con người được tạo thành chính là từ lúc thụ tinh, khi mà trứng và tinh trùng kết hợp với nhau hình thành phôi. Theo tự nhiên, quá trình thụ tinh xảy ra ở vị trí 2/3 ngoài của ống dẫn trứng trong cơ thể người mẹ. Để đảm bảo quá trình thụ tinh diễn ra bình thường, thì tinh trùng người nam phải đảm bảo chất lượng và số lượng và cơ quan sinh dục người nữ phải khỏe mạnh. Và chính sự bất thường về chất lượng và số lượng tinh trùng của người nam và một số bệnh lý ở cơ quan sinh dục người nữ đã làm cho quá trình thụ tinh không thể diễn ra như bình thường.

Hình 2: Quá trình thụ tinh bình thường diễn ra ở 2/3 ngoài của ống dẫn trứng

Đối với IVF, các bác sĩ sẽ lấy trứng của người mẹ và tinh trùng của người bố, sau đó cho thụ tinh trong một đĩa nuôi cấy ngoài cơ thể. Chính vì vậy mà trước đây một số người cho IVF là phương pháp “trái tự nhiên”, tạo ra rủi ro tiềm ẩn cho các bà mẹ và trẻ em. Theo Đức Giáo hoàng Francis, phương pháp này khiến trẻ em trở thành “một quyền lợi thay vì một món quà” và đang “đùa giỡn với sự sống”. Hội đồng Vatican còn cho rằng việc thực hiện IVF “có thể sẽ đem lại hậu quả khủng khiếp cho nhân loại”.

Ngày này, chẳng còn mấy ai tranh cãi về lợi ích cũng như vấn đề đạo đức của IVF. Nhưng để dễ hình dung về những gì mà nhiều người đã nghĩ về IVF ở thời kỳ đầu. Giáo sư Peter Braude, Trưởng khoa Sức khỏe phụ nữ, Đại học Hoàng Gia London (Anh) đã nói “Nếu ngày nay, khi nói về nhân bản vô tính người, thì mọi người sẽ cảm giác rằng chúng ta đang đùa giỡn với Chúa trời, đó cũng chính là cảm giác của mọi người vào năm 1978 khi nghĩ về IVF”.

Năm 1959, cơ sở khoa học của IVF được xác lập khi một động vật (thỏ) thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên ra đời bởi Min Chueh Chang (Trung Quốc), mở ra phương thức để hỗ trợ sinh sản cho con người.

Vào năm 1973, 3 nhà nghiên cứu của Úc là Carl Wood, John Leeton và Alan Trounson tại Đại học Monash đã công bố ca mang thai đầu tiên nhờ IVF. Tuy nhiên, ca mang thai này chỉ kéo dài được vài ngày.

Vào những năm 1960, Patrick Steptoe và Robert Edwards, người Anh, đã phối hợp với nhau với mong muốn có thể giúp được các cặp vợ chồng gặp vấn đề về khả năng sinh sản nếu họ có thể lấy trứng trực tiếp từ buồng trứng và đưa chúng vào tử cung sau khi chúng được thụ tinh. Họ đã bị Hội đồng nghiên cứu y tế từ chối cấp phép thử nghiệm vì cho rằng việc sử dụng trứng và tinh trùng của con người là vi phạm đạo đức. Nhưng cuối cùng họ đã thành lập một cơ sở nghiên cứu ở Oldham, nơi có nhiều phụ nữ vô sinh tình nguyện điều trị thử nghiệm. Em bé đầu tiên ra đời bằng IVF vào ngày 25 tháng 7 năm 1978 là kết quả thành công của sự phối hợp giữa Patrick Steptoe và Robert Edwards. Năm 2010, Robert Edwards đã được trao giải Nobel Y học về công trình phát triển phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.

Ngay sau thành công của Patrick Steptoe và Robert Edwards, các nhà khoa học khác trên khắp thế giới cũng cố gắng lập lại thành tựu IVF của Anh. Vào năm 1980, các nhà khoa học Úc đã tiến hành IVF thành công. Năm 1981, đứa trẻ IVF đầu tiên ở Mỹ ra đời. Nhưng tính đến thời điểm đó, tổng số đứa trẻ trên toàn thế giới được thụ thai nhờ IVF vẫn chỉ ở mức 15 đứa trẻ.

Tại Việt Nam, năm 1997, nhóm 4 chuyên gia người Pháp đã sang Việt Nam để hỗ trợ chuyển giao công nghệ IVF cho Bệnh viện Từ Dũ. Năm 1998, ba đứa trẻ đầu tiên tại Việt Nam đã ra đời nhờ IVF.

Ngày nay có phải IVF đã đạt đến giới hạn của tỉ lệ thành công?

Theo báo cáo của các quốc gia Châu Âu, tại Châu Âu tỉ lệ thành công trong một lần chuyển phôi đã liên tục tăng từ 11% vào năm 1997 lên 38% vào năm 2015, trong khi tỉ lệ đa thai đã giảm còn 14%.

Theo thống kê của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Mỹ (CDC), trong năm 2016, có tổng số 263.577 chu kỳ IVF được thực hiện tại 463 trung tâm hỗ trợ sinh sản và có 76.930 trẻ đã được sinh ra tại Mỹ. Tính ra, tỉ lệ thành công trong mỗi chu kỳ điều trị ở Mỹ vào khoảng 30%.

Theo Hiệp hội Sinh sản và Phôi thai Châu Âu, ở Anh, mỗi năm có khoảng 60.000 chu kỳ IVF với khoảng 17.000 chu kỳ thành công. Tỷ lệ thành công đạt khoảng 28%.

Nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn đặt huy vọng rất lớn vào IVF, xem kỹ thuật này là một cứu cánh cho niềm mong mỏi có con của họ. Nhưng thực tế, dù đã hơn 40 năm từ khi đứa trẻ đầu tiên sinh ra nhờ IVF, tỉ lệ thành công cho mỗi chu kỳ điều trị chỉ khoảng 30% thành công và điều đó có thể làm cho nhiều người thất vọng. Nhưng có lẽ IVF đã đi đến giới hạn về tỉ lệ thành công trong mỗi chu kỳ điều trị.

Yacoub Khalaf, giám đốc đơn vị IVF tại Guy's và St Thomas, đã nhận định " IVF đã phát triển đáng kể, nhưng tôi nghĩ nó gần như đã đạt tới giới hạn sinh học, trừ khi chúng ta tìm ra cách tạo trứng". Ông giải thích thêm rằng "Chúng tôi thấy những bệnh nhân đang vật lộn để có con ở tuổi 40 đến 45 và điều có thể tăng tỷ lệ thành công trong IVF là nếu chúng ta có thể tạo tinh trùng từ tế bào da của nam giới hoặc trứng từ tế bào tóc của phụ nữ."

“Khi tạo được trứng và tinh trùng từ tế bào gốc – Thời đại mới của IVF sẽ bắt đầu.”

Ngô Văn Phương

Tài liệu tham khảo:

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC6140213/

https://edition.cnn.com/2018/07/03/health/worldwide-ivf-babies-born-study/index.html

https://www.theguardian.com/society/2013/jul/12/story-ivf-five-million-babies

https://en.wikipedia.org/wiki/In_vitro_fertilisation#History

https://en.wikipedia.org/wiki/History_of_in_vitro_fertilisation#How_many_babies_are_born_as_a_result_of_IVF