TRƯỜNG ĐẠI HỌC
BUÔN MA THUỘT

Góc nhìn về chiến lược phát hiện và điều trị trúng đích SARS-CoV-2 (Kỳ cuối)

15/06/2020 0 0

 

  1. Chiến lược phòng và điều trị trúng đích COVID-19

Cho đến nay vẫn chưa có vaccine cũng như thuốc dùng trong phòng và điều trị “trúng đích” COVID-19 (cụm từ “trúng đích” ở đây được hiểu là thuốc có tác dụng trực tiếp lên virus). Tuy vậy một số phương pháp điều trị cũng như công tác nghiên cứu vaccine phòng chống COVID-19 vẫn đang được tiến hành.

  1. Điều trị trúng đích cho bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 (Hình 8)
  1. Điều trị bằng huyết thanh người bệnh đã khỏi.

Huyết thanh người bệnh đã khỏi hay nói cách khác là các kháng thể được sản xuất một cách tự nhiên do đáp ứng miễn dịch trong cơ thể người bởi các tác nhân xâm nhiễm. Vào đầu thế kỷ 20, huyết thanh người bệnh đã khỏi đã được sử dụng để đẩy lùi sự bùng phát của các bệnh do virus gây ra như: bệnh viêm tủy xám, bệnh sởi, bệnh quai bị và bệnh cúm. Có 8 nghiên cứu về sử dụng phương pháp này thực hiện trên 1703 bệnh nhân bị nhiễm virus cúm H1N1 năm 1918 cho thấy rằng tỉ lệ tử vong của bệnh nhân có triệu chứng nặng đã giảm xuống thấp hơn [14]. Nghiên cứu lớn nhất liên quan đến việc điều trị 80 bệnh nhân mắc SARS (2002) ở Hồng Kông. Bệnh nhân được điều trị trước ngày thứ 14 đã cải thiện được tiên lượng được và xuất viện trước ngày 22, phù hợp với quan niệm trước đó của các nhà chuyên môn rằng có nhiều khả năng có hiệu quả. Ngoài ra, những người có PCR dương tính và huyết thanh âm tính với coronavirus tại thời điểm điều trị đã cải thiện tiên lượng. Ba bệnh nhân nhiễm SARS-CoV tại Đài Loan, được điều trị bằng 500 ml huyết thanh người nhiễm đã khỏi, kết quả làm giảm lượng virus và cả ba đều sống sót. Ba bệnh nhân nhiễm MERS ở Hàn Quốc cũng được điều trị bằng phương pháp này nhưng chỉ hai trong số đó có sự trung hòa của kháng thể; và một nghiên cứu sau đó đã nhấn mạnh rằng có thể không có sự trung hòa kháng thể cao trong liệu pháp này [3]. Hay gần đây nhất, đại dịch Ebola 2013, phương pháp này cũng đã được sử dụng để điều trị cho bệnh nhân bị nhiễm, hai bệnh nhân người Mỹ được điều trị kết hợp giữa huyết thanh người bệnh đã khỏi và một thuốc thử nghiệm đã sống sót [12].

Description: C:\Users\NguyenHuu\Desktop\COVID-19 database\covid.jpg

Hình 8: Các con đường xâm nhập, phát triển trong tế bào chủ của SARS-CoV-2 và các chiến lược ngăn chặn (Nguồn: ncbi.nlm.nih.gov)

Ngày 01/02/2020 mẫu huyết thanh đầu từ người bệnh đã khỏi được thu nhận, và 09/02/2020 người nhiễm có triệu chứng nặng đầu tiên đã được truyền huyết thanh này; Guo Yanhong, một cán bộ Ủy ban Sức khỏe Quốc gia Trung Quốc (NHC) phát biểu trong cuộc họp rằng Trung Quốc đang nổ lực kêu gọi những người nhiễm SARS-CoV-2 đã khỏi bệnh hiến tặng huyết thanh cho việc điều trị bệnh COVID-19. Những ghi nhận ban đầu cho thấy liệu pháp này an toàn và hiệu quả, Guo nói thêm [5].

Tại Hoa Kỳ, vào ngày 24 tháng 3 năm 2020, FDA đã công bố quy trình IND (eIND) khẩn cấp để cho phép các bác sĩ riêng lẻ điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh COVID-19 nghiêm trọng bằng huyết tương người bệnh đã khỏi. Vào ngày 7 tháng 4 năm 2020, FDA đã công bố giao thức truy cập mở rộng quốc gia (National Expanded Access Protocol) được quản lý thông qua Mayo Clinic (https://www.uscovidplasma.org). Giao thức này cho phép nhiều người trưởng thành được điều trị bằng huyết tương cho cả những người có nguy cơ mắc bệnh nặng cũng như những người đã mắc bệnh nặng. Cuối cùng, có một số thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm được FDA chấp thuận, tập trung vào nhiều đối tượng nghiên cứu, bao gồm cả những người có nguy cơ cao để điều trị dự phòng, bệnh nhân mắc bệnh nhẹ, những người mắc bệnh nghiêm trọng nhưng không nguy kịch, bệnh nhân ICU hoặc trẻ em. Những nỗ lực tương tự  cũng đang diễn ra tại nhiều nơi trên khắp thế giới [6].

Khi thế giới vẫn chưa có thuốc, vaccine điều trị hiệu quả cho CoVID-19 thì rõ ràng liệu pháp dùng huyết thanh người bệnh là rất cần thiết, đặc biệt đối với các bệnh nhân đang trong giai đoạn cấp tính và bệnh cảnh xấu . Tuy nhiên, các tác nhân virus khác nhau (sự đột biến tạo ra các chủng mới của virus) cho thấy hiệu quả không giống nhau; bênh cạnh đó, các yếu tố nhầm lẫn nhóm máu hay mẫu huyết thanh có chứa các tác nhân gây bệnh khác cũng là những yếu tố quan trọng trong sử dụng liệu pháp này. Nguồn cung huyết thanh cũng là vấn đề cần đề cập đến, vì được lấy trực tiếp từ người bệnh đã khỏi nên số lượng là rất hạn chế và không chủ động được. Cần thêm các báo cáo về liệu pháp này để trả lời cho câu hỏi “liệu huyết thanh người bệnh đã khỏi có hiệu quả và hiệu quả như thế nào đối với người bệnh trong điều trị COVID-19 ?”

  1. Kháng thể đơn dòng

Để khắc phục trong vấn đề nguồn cung huyết thanh như đã nói ở trên, một phương án khác được thay thế là kháng thể đơn dòng. Kháng thể đơn dòng được tạo ra trong in vitro bằng nhiều cách khác nhau. Một trong số đó là sử dụng tế bào lympho B nhớ (B cell memory).

Tháng 03/2020, Xiangyu Chen và cộng sự đã tạo ra được 02 dòng kháng thể đơn dòng từ tế bào người có thể khóa được sự liên kết giữa tế bào người và protein S của virus. Tế bào lympho B nhớ được phân lập từ người bệnh đã khỏi được kiểm tra đã có kháng thể IgG kháng hiệu quả SARS-CoV-2 hiệu quả trong huyết thanh. Vùng trình tự mRNA mã hóa cho chuỗi nặng (Heavy chain) và chuỗi nhẹ (Light chain) của lớp kháng thể IgG này trong tế bào lympho B nhớ được phiên mã ngược, tạo ra các cDNA; sau đó chúng được tạo dòng trong plasmid và cuối cùng là chuyển vào chúng biểu hiện trong một dòng tế bào người. Các protein tái tổ hợp được biểu hiện hay nói cách khác hơn là các kháng thể đơn dòng được tạo ra có khả năng ngăn chặn sự liên kết của thụ thể ACE2 người tại vùng RBD (receptor binding domain) trên protein S của SARS-CoV-2 [4].

Với kết quả nghiên cứu này đã mở ra một triển vọng sản xuất kháng thể đơn dòng kháng SARS-CoV-2, theo đó, chúng ta sẽ chủ động được việc tạo ra nguồn kháng thể này, với số lượng lớn nhằm cung cấp cho việc điều trị, phòng chống hiệu quả loại virus này.

  1. Thuốc phân tử nhỏ

Ngày 05/03/2020, các nhà khoa học thuộc Khoa năng lượng – Phòng thí nghiệm Quốc gia Oak Ridge (Department of Energy’s Oak Ridge National Laboratory), đã dùng siêu máy tính để xác định được 77 phức hợp phân tử nhỏ có khả năng chống lại sự xâm nhập của virus này vào tế bào chủ. Các phức hợp này được thử nghiệm trên mô hình máy tính, từ 8.000 phức hợp ban đầu, nhóm nghiên cứu đã chọn lọc được 77 phức hợp có khả năng bám dính tốt nhất vào phân tử protein S của SARS-CoV-2 (Hình 9). Sự bám dính này làm cho phân tử protein S không còn khả năng bám vào thụ thể ACE2, ngăn chặn sự xâm nhập vào tế bào người của SARS-CoV-2 [8]. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới, tạo tiền đề cho các nghiên cứu sản xuất thuốc phân tử nhỏ trong cuộc chiến chống lại đại dịch COVID-19 đang ngày càng diễn biến phức tạp trên toàn thế giới.

Description: https://www.ornl.gov/sites/default/files/2020-03/coronavirus-2.png

Hình 9: Phức hợp (màu xám) ngăn chặn sự liên kết giữa protein S (màu xanh) và thụ thể ACE2 của người (màu tím) (Nguồn: ornl.gov)

  1. Thuốc kháng virus:

Jianjun Gao và cộng sự (2020) đã sử dụng Chloroquine phosphate một loại thuốc trước đây dùng để điều trị sốt rét, để điều trị cho bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2. Kết luận ban đầu cho rằng Chloroquine phosphate có hiệu quả và an toàn trong điều trị viêm phổi liên quan đến COVID-19, “cải thiện phát hiện hình ảnh phổi, thúc đẩy chuyển biến thành âm tính với virus và rút ngắn quá trình điều trị bệnh”. Thuốc cũng đã được Ủy ban Y tế Trung Quốc (National Health Commission of the People's Republic of China) khuyến nghị đưa vào điều trị cho bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 [10].

Cơ chế tác dụng của Chloroquine và Hydroxychloroquine là làm tăng pH trong các bóng nội bào (endosome), và như đã trình bày ở kỳ 1 về con đường xâm nhập muộn, Cathepsin L – loại protein hoạt động ở pH thấp - giúp các virus hòa màng trong các endosome và giải phóng vật liệu di truyền của chúng vào trong tế bào chất. Việc tăng pH làm cho protein Cathepsin L không có hoạt tính phân cắt protein S làm cho quá trình xâm nhập vào tế bào chủ bị gián đoạn. Ngoài ra, Chloroquine và Hydroxychloroquine còn có tác động ức chế ở bước sau dịch mã, sự hiện diện của thuốc làm tăng nồng độ ion kẽm, ức chế các polymerase phụ thuộc RNA (RNA-dependent polymerase; giảm giải phóng ion sắt cần thiết cho nhân đôi DNA trong các endosone và ức chế glycosyl hóa của lớp vỏ glycosyl virus [1]. Cho đến nay, việc sử dụng 2 loại thuốc này cũng là một vấn đề còn đang tranh cãi, ngày 24/04/2020 FDA đã có cảnh báo về việc sử dụng 2 loại thuốc này bên ngoài bệnh viện. FDA đã xác nhận có một vài trường hợp tử vong, tăng nguy cơ trên đối tượng có bênh nền là bệnh tim mạch hay bệnh thận do dùng thuốc trên có/không có kết hợp với azithromycin để điều trị, chúng vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm và cần thêm thời gian để kết luận mức độ hiệu quả của loại thuốc này đối với COVID-19 [9]. Ngoài ra các thử nghiệm lâm sàng Hydoxychloroquine cũng cho thấy an toàn và ít tác dụng phụ hơn so với Chloroquine, đặc biệt hơn, Chloroquine có tương tác với các thuốc Ritonavir/Liponavir trong khi Hydoxychloroquine không gây trở ngại đối với các thuốc này [16].

Các loại thuốc kháng virus HIV như: Ritonavir, Lopinavir và Darunavir cũng được thử nghiệm bằng mô hình phân tử trên máy tính. Kết quả cho thấy Ritonavir, Lopinavir có thể liên kết với CEP_C30 (coronavirus endopeptidase C30) một cách phù hợp nhất và tạo ra những thay đổi về hình dạng đáng kể của CEP_C30; trong đó, Ritonavir có những thay đổi mạnh hơn lopinavir [13].

Ritonavir, lopinavir, amprenavir, indinavir, nelfinavir, saquinavir … là nhóm thuốc ức chế protease, ức chế enzym phiên mã ngược làm cho vật liệu di truyền của virus sau khi được phóng thích vào trong tế bào chủ không được nhân bản, điều này làm cho virus không tăng lên và không thể lây nhiễm sang các tế bào khác. Hong và cộng sự năm 2020 đã tiến hành so sánh hiệu quả điều trị của bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2 tại Trung Quốc với hai nhóm, trong đó một nhóm dùng Chloroquine và Ritonavir/lopinavir. Nhóm ritonavir/lopinavir đã cho thấy được hiệu quả khôi phục nhất định của bệnh nhân nhiễm SARS-CoV-2, tuy nhiên nhóm dùng Chloroquine lại cho thấy kết quả tốt hơn, cụ thể là: có kết quả âm tính trong thời gian nhanh hơn, sự phục hồi chức năng phổi được tốt hơn, các triệu chứng của bệnh (ho, khó thở,…) được kiểm soát tốt hơn và rút ngắn được thời gian nằm viện [11].

Remdesivir là một trong số các loại thuốc thử nghiệm đầu tiên trong phác đồ điều trị bệnh nhân mắc COVID-19, do công ty Gilead Sciences của Mỹ bào chế. Trong các nghiên cứu, thuốc này đã cho thấy hiệu quả trong việc ức chế sự phát triển virus Corona gây bệnh tương tự như COVID-19, bao gồm Hội chứng suy hô hấp cấp tính nặng (SARS) và Hội chứng hô hấp Trung Đông (MERS). Remdesivir (GS-5734) là một thuốc cấu trúc tương tự như Adenin (nucleotide A - là một loại nucleobase thuộc nhóm purine là thành phần tạo nên các nucleotide trong các nucleic acid), chúng cạnh tranh với nucleotide A để gắn lên mạch RNA mới đang được tổng hơp của virus nhờ vào RdRb (RNA-dependent RNA polymerase), khi Remdesivir gắn tại vị trí i chúng không dừng quá trình phiên mã (transcription) ngay lập tức mà sẽ dừng lại tại vị trí i+3 (Hình 10) [2], sự liên gắn vào của Remdesivir không bị ảnh hưởng bởi hoạt tính 3’-5’exoribonuclease (3’-5’ExoN) của protein không cấu trúc 14 của SARS-Cov-2 (nsp-14) do đó chúng khóa hoàn toàn sự nhân bản của virus này sau khi gắn.

Remdesivir đang trong phase III của thử nghiệm lâm sàng. Chúng ta cần nhiều hơn các kết quả/báo cáo trong tương lai để biết được thuốc có an toàn và hiệu quả trong điều trị COVID-19 hay không ?

  1. Tạo vaccine phòng bệnh

Dựa trên các đặc điểm sinh học và cấu trúc của từng virus, các nhà khoa học có thể có những chiến lược phát triển vaccine khác nhau, dưới đây là 3 chiến lược khác nhau dùng để tạo vaccine:

Description: Fig. 2

Hình 10: Cơ chế dừng nhân bản của Remdesivir. (1) SARS-CoV-2 xâm nhập tế bào chủ. (2) Remdesivir, hoạt động như một nucleotide loại A. (3) Remdesivir gắn vào vị trí i của mạch mới tổng hợp. (4) Remdesivir triphosphate không bị loại bỏ bởi nsp14-ExoN.

  • Chiến lược 1: Virus bị làm suy yếu: đã được ứng dụng cho nhiều loại vaccine thông dụng như sởi, quai bị, rubella, đậu mùa…Các virus yếu này thường được tạo ra bằng cách chọn lọc qua nhiều giai đoạn nuôi cấy từ chủng ban đầu, hoặc được cố tình làm đột biến một số gen quan trọng tạo độc tố. Ưu điểm của loại vaccine này là virus được làm yếu có cấu trúc và hoạt tính gần giống với virus trong tự nhiên nên sẽ kích thích hệ miễn dịch mạnh và có tác dụng lâu dài. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là không dễ sàng lọc được chủng virus yếu phù hợp, có một số nguy cơ cho người có hệ miễn dịch bị suy giảm, hoặc có nguy cơ virus yếu biến đổi trở thành chủng ban đầu.
  • Chiến lược 2: Virus bị làm chết: được ứng dụng trong các vaccine ngừa viêm gan A, cúm mùa, bại liệt…Việc làm chết các virus này thường được thực hiện bằng phương pháp hóa học hoặc nhiệt độ. Ưu điểm của vaccine này khá an toàn cho người sử dụng vì virus đã chết hoàn toàn và quy trình làm chết virus cũng đơn giản, dễ thực hiện. Tuy nhiên, do virus không còn sống nữa nên khả năng xâm nhập tế bào không còn nên thường kích thích hệ miễn dịch yếu hơn, vì thế cần kết hợp thêm một số chất kích thích miễn dịch (adjuvant) để đảm bảo hiệu quả của vaccine.
  • Chiến lược 3: Phương pháp sử dụng các bộ phận nhỏ từ virus là phương pháp được phát triển nhiều sau này khi công nghệ khoa học phát triển, giúp con người hiểu rõ cấu trúc của virus và thao tác dễ dàng trên DNA, RNA, protein. Ưu điểm của phương pháp này là sự tiện lợi và an toàn khi những nhà nghiên cứu có thể chọn lựa các thành phần của virus có vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch để làm vaccine, không phải nuôi virus sống trong phòng thí nghiệm (vì đôi khi những virus nguy hiểm đòi hỏi những phòng thí nghiệm với độ an toàn cao). Các thành phần này của virus có thể đưa vào người dưới dạng DNA, RNA, chuỗi ngắn protein (peptide) hoặc thậm chí gắn các bộ phận này lên một virus lành tính khác để giả làm virus muốn phòng ngừa. Vì đây chỉ là các bộ phận của virus thật nên rất an toàn cho người sử dụng. Tuy nhiên, cũng vì đây không phải là virus thật nên cũng giống như phương pháp dùng virus đã chết, thường phải cần kết hợp với các chất kích thích hệ miễn dịch (adjuvant) để tăng hiệu quả của vaccine.

Chiến lược được nhắc đến nhiều nhất trong cuộc đua tạo ra vaccine chống lại COVID-19 trong thời gian vừa qua chính là chiến lược 3 như đề câp ở trên. Vì khả năng đáp ứng miễn dịch cho kiểu vaccine này khá thấp, do vậy, việc đưa vào cơ thể con người cũng có nhiều cách nhìn khác nhau:

  • Dung nạp qua được đường uống sử dụng Saccharomyces cerevisiae (một loại nấm dùng trong công nghiệp sản xuất bia) có mang gen tạo kháng nguyên SARS-CoV-2. Ngày 25/02/2020, các nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố đã tạo thành công vaccine bằng phương pháp trên. Giáo sư Huang Jihua, lãnh đạo nhóm nghiên cứu tại Đại học Thiên Tân đã cho biết sử dùng bốn liều vaccine cho mà không đưa ra tác dụng phụ. Việc tạo ra vaccine trong thời gian ngắn đã tạo ra những tranh cãi trong giới khoa học. Đáp lại những tranh cãi, trường đại học chỉ ra cách khắc phục các vấn đề về công thức trong quá trình phát triển chất và Huang thừa nhận rằng ông chưa trải qua các thử nghiệm lâm sàng trên động vật và con người, mặc dù ông đã chứng minh kết quả thành công [7].
  • Đưa vào cơ thể qua đường tiêm:

+ Ngày 16/03/202, một loại vaccine có tên là mRNA-1273 được phát triển bởi các nhà khoa học tại NIAID (Viện Dị ứng và Truyền nhiễm quốc gia Hoa kỳ) và cộng sự tại công ty công nghệ sinh học Moderna, Cambridge, Massachusetts, được tiêm thử nghiệm trên trên người. Phương pháp này dựa trên việc đưa một mRNA mã hóa cho protein S – protein đóng vài trò qua trọng trong việc gắn vào thụ thể ACE2 của tế bào chủ như miêu tả phần trên. Giai đoạn thử nghiệm trên động vật đã cho những kết quả như mong muốn, và giai đoạn thử nghiệm trên người đang được tiến hành [15]. Giai đoạn nhằm kiểm tra, đánh giá các tiêu chí như: (i) vaccine có gây độc, sốc phản vệ cho cơ thể người tiêm hay không ? (ii) các mRNA có tồn tại trong cơ thể con người, hay bị các enzyme nội bào phân cắt ? (iii) mRNA có được dịch mã trong cơ thể và sản xuất các protein gây đáp ứng miễn dịch ? (iv) đánh giá thời gian duy trì trạng thái miễn dịch, và liều lượng tiêm cho hiệu quả cao nhất. Qua đó có thể thấy, để sản xuất đại trả và được phép sử dụng trên người cần thời gian rất lâu, ít nhất là từ 12 – 18 tháng nữa để tạo được loại vaccine này.

+ Một chiến lược khác trong tạo vaccine là đóng gói các mảnh nhỏ của protein trong một màng bao. Phương pháp đóng gói trên có tên gọi là Nanoparticles, theo đó các mảnh nhỏ của protein S được tạo ra bằng phương pháp protein tái tổ hợp (các đoạn ngắn của trình tự mã hóa cho protein S được tạo dòng, biểu hiện trên vi khuẩn và thu nhận chúng) sau đó được bọc lại bằng một màng đôi phospholipid. Nanoparticles làm giảm khả năng phân cắt từ các protease nội bào, cũng như việc làm tăng khả năng phân tán lên các mảnh protein khi đưa vào cơ thể [17] [18].

Description: Kết quả hình ảnh cho mrna vaccine technology covid

Hình 11: Nữ tình nguyện viên đầu tiên được tiêm thử nghiệm vaccine mRNA-1273
(Nguồn: mercurynews.com)

  1. Lời kết

Đã trãi qua hơn 6 tháng kể từ đại dịch COVID-19 diễn ra, và chúng ta đã chứng kiến sự “tàn phá” khủng khiếp từ đại dịch này trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không chỉ riêng một quốc gia nào mà cả trên toàn thế giới. Đáng buồn thay, những người bị ảnh hưởng nặng nề nhất là đội ngũ Y-Bác sĩ nơi tuyến đầu chống dịch. Vẫn chưa có một phương pháp điều trị hiệu quả nào để ngăn chặn và đầy lùi đại dịch COVID-19, các phương pháp hiện nay vẫn đang chủ yếu là “điều trị hỗ trợ” chẳng hạn thở máy, hút đàm, tim phổi nhân tạo (ECMO), …  bài viết trên đây tác giả hy vọng sẽ góp một ít thông tin cần thiết cho đọc giả cập nhật thêm kiến thức về Coronavirus, các chiến lươc phát hiện và chiến lược phòng – điều trị trúng đích COVID-19. Việt Nam ta đã cơ bản đẩy lùi được đại dich, song vẫn còn đó những nguy cơ tiềm ẩn khi mà trên thế giới tình hình dịch COVID-19 vẫn đang diễn ra rất phức tạp. 

Tổng hợp và lược dịch:

Nguyễn Hữu Duyên - P. QLKH & HTQT

Lê Trung Khoảng - Khoa Dược

Tài liệu tham khảo:

[1]       Becker, R.C. (2020), “Covid-19 treatment update: follow the scientific evidence”, Journal of Thrombosis and Thrombolysis, 1–11.

[2]       Cao, Y., Deng, Q. and Dai, S. (2020), “Remdesivir for severe acute respiratory syndrome coronavirus 2 causing COVID-19: An evaluation of the evidence”, Travel Medicine and Infectious Disease, 101647.

[3]       Casadevall, A. and Pirofski, L. (2020), “The convalescent sera option for containing COVID-19”, Journal of Clinical Investigation.

[4]       Chen, X. et al. (2020), “Human monoclonal antibodies block the binding of SARS-CoV-2 spike protein to angiotensin converting enzyme 2 receptor”, Cellular & Molecular Immunology, 17(6), 647–649.

[5]       China puts 245 COVID-19 patients on convalescent plasma therapy - Xinhua | English.news.cn: http://www.xinhuanet.com/english/2020-02/28/c_138828177.htm. Accessed: 2020-03-21.

[6]       COVID-19 and Convalescent Plasma - Hematology.org: https://www.hematology.org:443/covid-19/covid-19-and-convalescent-plasma. Accessed: 2020-06-15.

[7]       Debate in China about oral vaccine against Covid-19: http://www.plenglish.com/index.php?o=rn&id=52635&SEO=debate-in-china-about-oral-vaccine-against-covid-19. Accessed: 2020-03-21.

[8]       Early research on existing drug compounds via supercomputing could combat coronavirus | ORNL: https://www.ornl.gov/news/early-research-existing-drug-compounds-supercomputing-could-combat-coronavirus. Accessed: 2020-03-21.

[9]       FDA cautions against use of hydroxychloroquine or chloroquine for COVID-19 outside of the hospital setting or a clinical trial due to risk of heart rhythm problems: (2020), https://www.fda.gov/drugs/drug-safety-and-availability/fda-cautions-against-use-hydroxychloroquine-or-chloroquine-covid-19-outside-hospital-setting-or. Accessed: 2020-06-09.

[10]     Gao, J., Tian, Z. and Yang, X. (2020), “Breakthrough: Chloroquine phosphate has shown apparent efficacy in treatment of COVID-19 associated pneumonia in clinical studies”, BioScience Trends, 14(1), 72–73.

[11]     Hong, W. (2020), “Combating COVID-19 with Chloroquine”, Journal of Molecular Cell Biology, 12(4), 249–250.

[12]     Kraft, C.S. et al. (2015), “The Use of TKM-100802 and Convalescent Plasma in 2 Patients With Ebola Virus Disease in the United States”, Clinical Infectious Diseases, 61(4), 496–502.

[13]     Lin, S., Shen, R., He, J., Li, X. and Guo, X. (2020), “Molecular Modeling Evaluation of the Binding Effect of Ritonavir, Lopinavir and Darunavir to Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 Proteases”, bioRxiv, 2020.01.31.929695.

[14]     Luke, T.C., Kilbane, E.M., Jackson, J.L. and Hoffman, S.L. (2006), “Meta-analysis: convalescent blood products for Spanish influenza pneumonia: a future H5N1 treatment?”, Annals of Internal Medicine, 145(8), 599–609.

[15]     NIH Clinical Trial of Investigational Vaccine for COVID-19 Begins | NIH: National Institute of Allergy and Infectious Diseases: https://www.niaid.nih.gov/news-events/nih-clinical-trial-investigational-vaccine-covid-19-begins. Accessed: 2020-03-21.

[16]     Sahraei, Z., Shabani, M., Shokouhi, S. and Saffaei, A. (2020), “Aminoquinolines against coronavirus disease 2019 (COVID-19): chloroquine or hydroxychloroquine”, International Journal of Antimicrobial Agents, 55(4), 105945.

[17]     Scripps Research scientists tackle COVID-19 coronavirus pandemic from many angles: https://www.scripps.edu/news-and-events/press-room/2020/20200318-covid19-scripps-research.html. Accessed: 2020-03-21.

[18]     Van Long, N., Ha, B., Tuan, A., Van Luong, H., Linh, N., Duc, T., Dai, P., Yong, C. and Van Men, C. (2019), “Phytosomal Nanoparticles Preparation of Curcuminoids to Enhance Cellular Uptake of Curcuminoids on Breast Cancer Cell Line MCF-7”, Pharmacognosy Journal, 11(5), 1037–1045.