TRƯỜNG ĐẠI HỌC
BUÔN MA THUỘT

TÁC DỤNG CỦA KHẨU TRANG TỪ GÓC NHÌN KHOA HỌC

19/02/2020 0 0

Dịch viêm hô hấp cấp do virus chủng mới 2019-nCov đang gây ra nỗi hoang mang không nhỏ. Ngày 30/01/2020, thủ tướng Việt Nam nêu phương án ''mạnh'': Có thể toàn dân sẽ phải đeo khẩu trang để phòng dịch. Chưa bao giờ khẩu trang lại trở thành mặt hàng “hot” đến như vậy. Thế nhưng, liệu biện pháp như trên có chống dịch hiệu quả? 

Nhìn từ góc độ y học chứng cứ, Bs Nguyễn Văn Tuấn, Đại Học New South Wales tại Úc đã tổng hợp một số nghiên cứu về tác dụng của khẩu trang. Các nghiên cứu được đánh giá qua 3 tiêu chí:

  • ILI: có triệu chứng giống như cúm (influenza-like infection); 

  • CRI: Bệnh hô hấp qua chẩn đoán lâm sàng (clinical respiratory illness

  • LCV: Xác định bị nhiễm bằng xét nghiệm (laboratory confirmed virus)

Một nghiên cứu khá công phu tại Hà Nội đã được công bố trên tập san BMJ Open vào năm 2015 [1] thực hiện trên 14 bệnh viện với 1607 nhân viên y tế. Kết quả cho thấy nhóm mang khẩu trang vải hoặc không mang khẩu trang có nguy cơ ILI, CRI và LCV cao hơn so với nóm mang khẩu trang y tế hoặc N95.

Phân tích tổng hợp 6 nghiên cứu so sánh hiệu quả phòng chống virus và cúm ở nhân viên y tế giữa 2 loại khẩu trang y khoa và N95 công bố trên tập san Clinical Infectious Diseases năm 2017 [2] cho thấy khẩu trang y tế và khẩu trang N95 làm giảm nguy cơ ILI và CRI, đặc biệt là khẩu trang N95

Một nhóm đối tượng mà chúng ta quan tâm là người dân trong cộng đồng. Vì rất khó nghiên cứu ngoài cộng đồng, nên các nhà nghiên cứu tập trung vào gia đình. Tác giả Shuya Takahashi và cộng sự đã làm một phân tích tổng hợp công bố trên tập san General Medicine vào năm 2014 [3], cho thấy trong môi trường nhà có người bị cúm, thân nhân đeo khẩu trang không có hiệu quả giảm nguy cơ bị cúm hay nhiễm virus cúm. Trong môi trường gần gũi trong nhà mà khẩu trang chẳng có hiệu quả, thì rất khó để nói rằng đeo khẩu trang đại trà (ngoài cộng đồng) như hiện nay sẽ đem lại hiệu quả tốt. Trong thực tế, hầu như tất cả các cơ quan y tế nước ngoài đều không khuyến cáo công chúng đeo khẩu trang nếu không có triệu chứng và đang ở trong môi trường có nguy cơ thấp. Hiện nay, theo số lượng thực tế, nguy cơ bộc phát 2019-nCoV ở Việt Nam được đánh giá là rất thấp [4]

Bản thân vi rút 2019-nCoV có kích thước lớn, nên giả thiết ban đầu đưa ra là vi rút sẽ tồn tại trong giọt nước bọt lớn, các giọt nước bọt này khó bay đi xa, chỉ trong phạm vi 2m là có thể bị rơi. Tuy nhiên giả thiết khi bệnh nhân khi ho, sẽ tạo ra những giọt siêu mịn và mịn kích thước từ 0,1-10µm; những hạt này có thể bay xa hơn, hoặc có thể bám dính vào các hạt bụi mịn và siêu mịn khác để bay đi xa hơn nữa. Câu hỏi đặt ra là: 2019-nCoV có thể nằm trong các hạt siêu mịn và mịn để ‘khuếch tán’ trong không khí rồi gây bệnh được hay không? Rất may là các hạt mịn và siêu mịn trong không khí có mật độ rất thấp, dù nó mang theo virus thì thường sẽ không đủ số lượng để gây ra bệnh khi hít phải. Cho đến nay, mới chỉ có một vài nghiên cứu cho thấy vi khuẩn lao và virus sởi là đủ khả năng lan truyền bệnh qua những hạt siêu mịn. Các vi sinh vật khác chưa có bằng chứng rõ ràng để khẳng định những hạt siêu mịn là tác nhân lây truyền. Một cơ chế lây nhiễm khác là các giọt bắn lớn lắng đọng xuống bề mặt của các vật dụng như bàn, ghế, sàn, cánh cửa, tay cầm, v.v. Theo số liệu nghiên cứu thì các droplets này sẽ tồn tại trên bề mặt từ 3 đến 12 giờ. Trong thời gian đó, nếu một người tiếp xúc với các vật dụng này bằng tay, và chúng ta có thói quen dùng tay sờ mặt, mũi, miệng, mắt… thì sẽ có nguy cơ cao bị nhiễm virus. Đó cũng chính là lí do tại sao các chuyên gia khuyên nên rửa tay thường xuyên khi tiếp xúc với một vật dụng. Rửa tay có hiệu quả thiết thực nhất trong việc phòng chống dịch bệnh.  Nghiên cứu tại Việt Nam đã khẳng định biện pháp rửa tay giúp làm giảm đến 34% nguy cơ LCV.

Tóm lại, việc đeo khẩu trang thường quy trong cộng đồng không phải là một biện pháp quan trọng để phòng chống dịch nCoV. Khẩu trang chỉ cần thiết trong những trường hợp bệnh nhân có triệu chứng hô hấp để phòng lây cho cộng đồng, người nhà chăm sóc bệnh nhân và nhân viên y tế điều trị và chăm sóc bệnh nhân. Theo bộ Y Tế Pháp, việc mang ''khẩu trang phẫu thuật'' (tức loại khẩu trang ''ba lớp'' thông thường) chủ yếu có giá trị phòng bệnh cho người khác, khi bản thân mình mang mầm bệnh, ''việc mang loại khẩu trang này cho bộ phận dân cư không nhiễm bệnh, với mục tiêu tránh nhiễm virus không nằm trong các biện pháp phòng bệnh được khuyến cáo, và tính hiệu quả của biện pháp này không được chứng minh''. Bà Sylvie Briand, giám đốc vụ Đối phó Toàn cầu với các Nguy cơ Lây nhiễm của WHO, nhấn mạnh với người không nhiễm virus, có một nguy cơ lớn là khẩu trang có thể tạo ''cảm giác an toàn giả tạo''. Một trong các biện pháp quan trọng được WHO khuyến cáo là rửa tay thường xuyên, bởi nguy cơ lây nhiễm qua đường tiếp xúc với virus trong các dịch thể mà người bệnh để lại là lớn. Đứng trước tình trạng thiếu thốn phương tiện bảo hộ đặc biệt là cho nhân viên y tế, Tổng giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới, ông Tedros Adhanom Ghebreyesus cũng đã đưa ra lời kêu gọi nên để dành các phương tiện bảo hộ cá nhân cho những người thực sự cần chúng. 

[1] https://bmjopen.bmj.com/content/5/4/e006577

[2] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/29140516

[3] https://onlinelibrary.wiley.com/10.14442/general.15.126

[4] http://rocs.hu-berlin.de/corona/docs/analysis/importrisk